Trong những ngày đầu
của sản xuất hàng hóa và lưu thông tiền tệ, hệ thống ngân hàng sớm ra
đời để huy động các nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi hình thành trong xã hội
nhằm tái phân phối cho nền kinh tế quốc dân theo nguyên tắc tín dụng.
Như vậy, một kênh vốn nối hai cực đó lại với nhau và phải thông qua các
trung gian tài chính, trong đó chủ yếu là hệ thống ngân hàng được gọi
là kênh dẫn vốn gián tiếp. Khi xã hội của sản xuất và
lưu thông hàng hóa phát triển ở giai đoạn cao, ngày một hoàn thiện thì
những người có vốn đã có đủ điều kiện về môi trường pháp lý, môi trường
tài chính v.v… để chuyển vốn của mình trực tiếp đầu tư vào sản xuất
không phải thông qua tầng lớp trung gian tài chính mà phải thông qua
thị trường chứng khoán – một thị trường dẫn vốn trực tiếp từ cực có vốn này sang cực cần vốn kia theo nguyên tắc đầu tư. Kênh dẫn vốn đó được gọi là kênh dẫn vốn trực tiếp.
Qua sự khảo sát giữa
hai kênh dẫn vốn gián tiếp và trực tiếp thấy rằng, bên cạnh những ưu
điểm đem lại từ kênh dẫn vốn trực tiếp mà kênh gián tiếp không thể có
được, còn cho thấy thị trường chứng khoán đã tạo điều kiện dễ dang cho
việc điều hòa vốn trong nền kinh tế quốc dân thông qua việc mua bán
chuyển nhượng vốn giữa các chủ thể của nền kinh tế.
Chính vì lẽ đó, khi
nền sản xuất hàng hóa phát triển ở giai đoạn cao đòi hỏi sự ra đời thị
trường chứng khoán quốc gia và trong điều kiện quốc tế hóa đời sống
kinh tế và xã hội nhưng ngày nay thì vấn đề toàn cầu hóa hoạt động thị
trường chứng khoán của các nước trở nên cấp thiết và sẽ phát triển.
Vậy thị trường chứng
khoán là gì? Có nhiều khái niệm về thị trường chứng khoán khác nhau,
nhưng nhìn chung có thể dẫn ra một khái niệm có tính phổ biến: Thị
trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán,
chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời.
Thị trường chứng
khoán phải tồn tại ở một nơi mà ở nơi đó việc mua bán chứng khoán được
thực hiện. Trong quá trình phát triển và hoàn thiện thị trường chứng
khoán ở các nước có nền sản xuất và lưu thông hàng hóa lâu đời như Mỹ,
Anh, Pháp, v.v… nơi đó tồn tại dưới hai hình thức: Thị trường chứng khoán có tổ chức và Thị trường chứng khoán phi tổ chức.
Hình thái điển hình của thị trường chứng khoán có tổ chức
là Sở giao dịch chứng khoán (Stock exchange). Mọi việc mua, bán, chuyển
nhượng, trao đổi chứng khoán phải tiến hành trong Sở giao dịch và thông
qua các thành viên của Sở giao dịch theo quy chế của Sở giao dịch chứng
khoán. Sở giao dịch chứng khoán có thể là tổ chức sở hữu nhà nước, là
doanh nghiệp cổ phần hoặc một hiệp hội và đều có tư cách pháp nhân hoạt
động kinh doanh chứng khoán. Có thể dẫn ra những Sở giao dịch chứng
khoán nổi tiếng của thế giới như: NYSE (New York Stock exchange), TSE
(Tokyo Stock exchange), LSE (London Stock exchange )v.v…
Thị trường chứng khoán phi tổ chức
là một thị trường không có hình thái tổ chức tồn tại, nó có thể là bất
cứ nơi nào mà tại đó người mua và người bán trực tiếp gặp nhau để tiến
hành giao dịch. Nơi đó có thể là tại quầy giao dịch ở các ngân hàng bất
kỳ nào đó. Thị trường hình thành như thế gọi là thị trường giao dịch
qua quầy (Over-the-counter – OTC)
Ngày nay, nhờ vào
thành quả của cách mạng tin học, hệ thống INTERNET đã gắn kết các thành
viên của thị trường lại với nhau, do đó việc trao đổi thông tin, tiến
hành giao dịch mua bán chứng khoán không phải đến tận quầy của các ngân
hàng và có thể tiến hành ngay trên bàn máy vi tính. Đây là một hình
thái của thị trường chứng khoán phi tổ chức bậc cao mới xuất hiện trong
thập kỉ qua. Thị trường này chưa có tên chính thức, có người gọi đó là
thì trường thứ ba (Third Market)
Với sự phát triển
phong phú của các hình thái tổ chức của thị trường chứng khoán từ một
nơi chốn cụ thể như Sở giao dịch chứng khoán đến các quầy giao dịch của
ngân hàng và gần đây là đến không gian rộng lớn của thông tin, do đó đã
tạo điều kiện và môi trường cho mọi thành viên trong xã hội đều có thể
trở thành thành viên của thị trường chứng khoán hiện đại
Trong nền kinh tế thị
trường, xã hội của sản xuất được phân chia thành hai cực: Một cực có
vốn tìm nơi đầu tư và một cực cần vốn để đầu tư vào sản xuất và kinh
doanh.